Translate

Hot Line

Ms Lan +84.94362.7667 Ms Thảo +84.94462.7667

Thứ Hai, 30 tháng 12, 2013

HÒA MÌNH VỚI THIÊN NHIÊN TẠI VƯỜN THỰC VẬT BOTANIC GARDEN- SINGAPORE

Vườn thực vật singapore mở cửa từ 5 giờ sáng đến 12 giờ tối, vào cửa tự do. Nằm ở Trung tâm thành phố với diện tích hơn 54 ha, nơi đây nổi tiếng bởi việc nghiên cứu, thu thập những loài thực vật và những loài hoa cỏ nhiệt đới quý hiếm. Bên trong vườn có rừng nguyên sinh thiên nhiên và vườn hoa muôn màu muôn sắc rực rỡ. Nguồn thực vật nơi đây vô cùng phong phú và đa dạng, có rất nhiều chủng loại khác nhau. Trong khu vườn, tổng cộng có trên hai vạn loài cỏ kỳ lạ và các loài gỗ quý hiếm khác nhau, chúng được phân thành cây thân gỗ, các loài cây cọ, vườn cây họ trúc, các loài sống dưới nước, các loài thực vật sống trong đầm lầy, các loài dương sỉ và các loài thực vật sa mạc,…


 
Nơi đây còn có Hồ Di Đình là một công trình kiến trúc kiểu Victoria, nơi trồng hơn 1,2 vạn loài hoa lan quý hiếm trên thế giới. Ở khu vườn này, các nhà khoa học đã từng lai tạo thành công cây cao su ba lá vốn dĩ được trồng ở Braxin, từ đó mà những nước Malayxia và Indonesia trở thành những nước trồng và sản xuất cao su chủ yếu.
Vườn thực vật Singapore còn tham gia vào công tác lai ghép các loài thực vật, nhất là công việc nghiên cứu của hoa Hồ Di đã có những thành công đáng kể và khiến cho hoa Hồ Di của Singapore đứng hàng đầu trên thế giới về lượng xuất khẩu. Bên trong vườn thực vật Singapore còn có thư viện lớn.

VƯỜN THÚ ĐÊM NIGHT SAFARI- ĐIỂM ĐẾN HẤP DẪN TẠI SINGAPORE

Địa điểm: 80 Manlai Lake Road Singapore 729826
Đặc điểm: Night Safari là sở thú đêm đầu tiên của thế giới
Giờ Mở cửa: 7g30 tối đến nửa đêm (hàng ngày)
Night Safari là sở thú đêm đầu tiên của thế giới, là một trong những địa điểm thu hút du khách nổi tiếng ở Singapore . Được khánh thành vào năm 1993, Night Safari rộng 40ha, sở hữu trên 900 con thú của 135 loài ngoại lai, được nuôi sống trong điều kiện tự nhiên hoang dã.
Singapore đã tạo Night Safari thành một khu rừng tổng hợp mang đặc thù của nhiều khu rừng khác nhau trên thế giới, như vùng rừng ẩm ướt Đông Nam Á, Himalaya, châu Phi, vùng thung lũng Nepan, đồng hoang Nam Mỹ… Đặc biệt, khi tham quan Night Safri vào buổi tối, du khách còn được xem chương trình các sinh vật của bóng đêm trình diễn thật độc đáo.
Khi hoàng hôn buông xuống, một thế giới khác sẽ hồi sinh. Tại vườn thú đêm Night Safari, bạn có thể tận mắt trông thấy tê giác, nghe thấy tiếng hú của bầy linh cẩu hay ngắm nhìn những cô nàng hươu cao cổ lướt đi bình thản qua khu đất rộng lớn trong bầu không khí tĩnh mịch của màn đêm.
Đi dạo một mình dọc theo đường mòn đi bộ hay thư giãn trên xe điện – cho dù bạn chọn bất kỳ hình thức nào, Night Safari là một chuyến phiêu lưu hoang dã không thể bỏ qua.
 

TƯỢNG MERLION- BIỂU TƯỢNG CỦA SINGAPORE

Tượng Merlion lần đầu tiên được thiết kế như là một biểu tượng của Hiệp hội Quảng bá Du lịch Singapore (STPB) vào năm 1964 - hình ảnh con thú đầu sư tử, mình cá đang cưỡi trên ngọn sóng nhanh chóng trở thành biểu tượng của đảo quốc Singapore trên thế giới.
Trước tiên, khi được đặt tại công viên Merlion bên cạnh cầu Esplanade, tượng Merlion lớn và nhỏ đã trở thành một địa điểm du lịch tham quan hấp dẫn đối với khách du lịch. Buổi lễ khánh thành tượng được diễn ra vào ngày 15 tháng 12 năm 1972, với sự chủ trì của Ngài Lý Quang Diệu, Thủ tướng Singapore lúc bấy giờ.
Ngày nay, tượng Merlion đã được chuyển đến một địa điểm mới cách địa điểm cũ 120m, bên cạnh hộp đêm One Fullerton
Tượng Merlion với chiều cao 8,6m và trọng lượng 70 tấn được đúc bằng xi măng fondue bởi nghệ nhân Singapore quá cố, Ông Lim Nang Seng. Bức tượng Merlion thứ hai có kích thước nhỏ hơn với chiều cao 2m và nặng 3 tấn, cũng do nghệ nhân này thực hiện. Thân tượng được đúc bằng xi măng fondue, lớp áo bên ngoài được làm từ những chiếc dĩa bằng sứ và đôi mắt của Merlion là hai tách trà nhỏ màu đỏ.
Tượng Merlion được thiết kế vào năm 1964 bởi ông Fraser Brunner, thành viên của ủy ban lưu niệm và là người quản lý Bể Cá Van Kleef, đầu sư tử tượng trưng cho con sư tử mà Hoàng tử Sang Nila Utama phát hiện khi ông quay trở lại để khám phá Singapura vào thế kỷ 11 sau Công nguyên, như được ghi chép trong ‘Biên niên sử Malay’. Đuôi cá của Merlion tượng trưng cho thành phố biển cổ xưa Temasek (trong tiếng Java có nghĩa là "biển"), tên gọi của Singapore trước khi Hoàng tử đặt tên mới là "Singapura" (có nghĩa là Thành phố (Pura) Sư tử (Singa) trong tiếng Phạn), và biểu thị cho sự khởi đầu khiêm tốn của Singapore từ một làng chài ven biển.

THĂM NHÀ HÁT SẦU RIÊNG TẠI SINGAPORE

Nhà hát Esplanade trên vịnh Marina là niềm tự hào của người dân đảo quốc sư tử Singapore. Họ gọi nhà hát với cái tên thân mật "Quả sầu riêng" vì thiết kế độc đáo. Tên gọi này cũng tự nhiên trở thành "ngôn ngữ quốc tế".
"Nhà hát sầu riêng" là một trung tâm biểu diễn nghệ thuật "hoành tráng" nhất của đảo quốc Singapore, tọa lạc trên diện tích rộng 6 ha. Nhà hát chính có sức chứa 2.000 chỗ. Ngoài ra còn có một phòng hòa nhạc 1.600 khách. Esplanade có cả studio, thư viện, trung tâm nghệ thuật ngoài trời dành cho những buổi biểu diễn cuối tuần (chứa được khoảng 1.000 người trong đó có 200 chỗ ngồi), bãi đỗ xe ngầm, trung tâm thương mại, ẩm thực, khách sạn và trung tâm hội nghị quốc tế...
Công trình được thực hiện bởi hai công ty kiến trúc là Michael Wilford & Partners (có trụ sở chính tại London) và DP Architects (Singapore). Trong bản thiết kế đầu tiên được giới thiệu trước công chúng năm 1994, tòa nhà có những lớp kính trang trí xung quanh. Thiết kế này đã bị chê bai vì dễ gây hiệu ứng nhà kính, nhất là trong điều kiện khí hậu nhiệt đới tại Singapore. Chính vì vậy, Giám đốc DP Architects đã áp dụng một vài thay đổi. Giải pháp tạo "bóng mát" đã được sử dụng, đó là dùng vật liệu nhôm có sơn phủ, cách điệu thành những hệ mái nhỏ. Nhờ thế, nhà hát có dáng vẻ tương tự như quả sầu riêng. Và cái tên "Nhà hát sầu riêng" bắt nguồn từ đó
"Nhà hát sầu riêng" mở cửa ngày 12/10/2002. Kinh phí đầu tư xây dựng ước tính khoảng 1 tỷ đô la Singapore. Nhà hát chính có sân khấu lớn nhất Singapore với kích thước 39 x 23 m. Với 4 tầng, gần 2.000 chỗ ngồi, nhưng tầm nhìn của khán giả sẽ không bị ảnh hưởng bởi hàng ghế xa nhất chỉ cách sân khấu khoảng 40 m. Phòng hòa nhạc có thể chứa được chừng 120 nhạc công một lúc. Nơi đây thường xuyên tổ chức những buổi biểu diễn mang tầm cỡ quốc tế. 84 máy tính được huy động để điều khiển hệ thống cửa ra vào. Mỗi cánh cửa có trọng lượng từ 3 đến 11 tấn, cánh lớn nhất có chiều cao 10,5 m, cánh nhỏ nhất là 2,2 m. Để phục vụ cho hoạt động, nhà hát có 4.470 ống kỹ thuật, với 610 điểm nối khác nhau.
Một studio nhỏ có thể chứa được 250 người là không gian lý tưởng cho những màn trình diễn phạm vi nhỏ, cũng như các buổi thuyết trình và gặp gỡ thân mật. Ngoài ra, còn có một sân khấu nhỏ khác, dành cho hơn 200 người, thích hợp cho các buổi tập của những nghệ sĩ sẽ biểu diễn trong sân khấu chính.
Khách du lịch đến Singapore hầu như đều không bỏ qua cơ hội thăm Esplanade vào tất cả các ngày trong tuần. Mỗi tour kéo dài 45 phút với giá vé cho người lớn là 8 đô la Singapore và trẻ em là 5 đô la Singapore.

QUAN SÁT ĐẢO QUỐC SƯ TỬ TỪ TRÊN CAO VỚI VÒNG ĐU QUAY SINGAPORE FLYER

Nằm ở Vịnh Marina, đu quay Singapore tương đương với độ cao của tòa nhà 42 tầng. Đứng ở độ cao chóng mặt 165m, bạn sẽ cảm nhận được cảnh vật tuyệt đẹp của bầu trời Singapore: Vịnh Marina kỳ vĩ, những tòa nhà chọc trời, màu xanh của rừng nhiệt đới và những ánh đèn không ngừng nhấp nháy trên bầu trời huyền ảo.
Singapore Flyer đã được công nhận là đu quay lớn nhất thế giới hiện nay, có độ cao tương đương với độ cao của một cao ốc 42 tầng, lớn hơn cả đu quay London Eye nổi tiếng tại nước Anh. Đu quay này khá bề thế, với 28 cabin chở khách. Mỗi cabin có kích cỡ tương đương một chiếc xe buýt lớn, có máy lạnh, chứa được 28 người/lượt. Mỗi vòng quay của bánh xe đu kéo dài đúng 30 phút nên cứ mỗi giờ bánh xe đu quay tải được khoảng 1.000 người lên độ cao 165m để ngắm cảnh thành phố với tầm nhìn xa tới 45km. Cũng do cabin lớn như vậy nên du khách có thể đi lại trong cabin mà ngắm cảnh từ nhiều góc độ của thành phố Singapore. Nhờ đó khách chơi đu không có cảm giác chóng mặt, không cảm thấy cabin bị lắc, xóc khi vận hành lên cao.
Lý tưởng nhất là bạn lên đu quay vào thời điểm hoàng hôn, để kịp ngắm cảnh mặt trời lặn tại đảo quốc này. Thật tuyệt vời khi ở độ cao 165m, bạn thỏa thích phóng tầm mắt vượt khỏi những cao ốc đèn sáng lung linh trong màn đêm, trải nghiệm cảm giác an nhiên tự tại từ trên cao.
Vào những ngày đẹp trời và nếu có thị lực tốt, bạn còn có thể phóng tầm mắt sang tới Malaysia và Indonesia - hai quốc gia láng giềng của Singapore

PHỐ CỔ HÀ NỘI- DI SẢN TƯỢNG TRƯNG CHO CỐT CÁCH LINH HỒN CỦA THỦ ĐÔ NGÀN NĂM VĂN HIẾN

Khu phố cổ Hà nội là một di sản kiến trúc quí báu mang đậm bản sắc truyền thống văn hoá của dân tộc, là niềm tự hào và xứng đáng tượng trưng cho cốt cách linh hồn của Thủ đô ngàn năm văn hiến.
Nằm ngay cạnh hồ Hoàn Kiếm, khu phố cổ Hà Nội bao gồm 76 tuyến phố, được xác định bởi: phía bắc là phố Hàng Đậu; phía tây là phố Phùng Hưng; phía nam là các phố Hàng Bông, Hàng Gai, Cầu Gỗ và Hàng Thùng; phía đông là đường Trần Quang Khải và Trần Nhật Duật.
 Với tổng diện tích khoảng 100ha, khu phố cổ Hà Nội được hình thành từ thế kỷ 11 và có bề dày gần một nghìn năm lịch sử của một khu đô thị buôn bán sầm uất, tập trung dân cư hoạt động tiểu thủ công nghiệp và buôn bán giao thương, hình thành nên những phố nghề đặc trưng mang những nét truyền thống riêng biệt của cư dân thành thị, kinh đô. Thợ thủ công từ các làng nghề quanh kinh thành Thăng Long xưa tụ tập về đây, tập trung theo từng khu vực chuyên làm nghề của mình khiến các phố nghề ngày càng phát triển. Phố nào cũng ồn ào, náo nhiệt cảnh mua bán, lao động như một làng nghề thu nhỏ. Và sản phẩm được buôn bán đã trở thành tên phố, với chữ "Hàng" đằng trước như Hàng Gạo, Hàng Đường, Hàng Muối... Chính vì vậy người Việt quen gọi Hà Nội là Hà Nội 36 phố phường với ý nghĩa phường là nơi tập trung những người làm cùng một nghề thủ công, bán cùng mặt hàng theo kiểu “buôn có bạn, bán có phường”.
Một đặc trưng nữa của khu phố cổ Hà Nội là kiến trúc nhà cổ với nhà dạng ống, mái ngói nghiêng, mặt tiền là cửa hàng buôn bán. Những ngôi nhà này chủ yếu được xây dựng vào thế kỉ 18-19. Người Hà Nội đã bố cục khéo léo hệ thống các phòng, gác lửng, sân trong đáp ứng nhu cầu đa dạng của cuộc sống. Nhờ thế mà tuy không lớn nhưng mỗi ngôi nhà cổ Hà Nội vẫn có diện tích dành làm nơi bán hàng, làm hàng, nơi thờ cúng, tiếp khách, nơi ngủ, hóng mát… 
Đến với khu phố cổ Hà Nội, du khách dù khó tính đến đâu cũng vẫn bị hấp dẫn bởi những giá trị văn hoá chứa đựng trong khoảng 100 công trình kiến trúc lâu đời gồm đình, đền, chùa, hội quán. Điển hình trong các di tích lịch sử và văn hoá này là ngôi đền Bạch Mã ở phố Hàng Buồm, được coi là một trong tứ trấn của kinh thành Thăng Long.

Nhiều người nước ngoài lần đầu tiên tới phố cổ Hà Nội sẽ cảm thấy hơi lo lắng khi đi giữa những dãy phố mang những cái tên na ná, nằm ngang dọc với các cửa hàng bán những sản phẩm cùng chủng loại, những hàng ăn hai bên đường tấp nập kẻ vào người ra, hay hòa vào dòng người và xe cộ đi lại như mắc cửi. Nhưng rồi cảm giác đó dần dần qua đi, thay vào đó là sự yêu mến da diết khi họ nhận ra cuộc sống của con người Hà Nội đầy náo nhiệt, đầy sức sống, không ngừng chuyển động nhưng cũng rất nên thơ. Họ như bị cuốn vào một xứ sở bất tận của các món ăn, từ món ăn truyền thống như bún chả, phở, bún cá…trong các quán nhỏ trên vỉa hè đến các gánh hàng rong bán trứng vịt lộn, bánh rán, bún ốc, bún đậu mắm tôm…
 Cứ vào dịp cuối tuần, khi màn đêm buông xuống, tuyến phố đi bộ Hàng Đào - Đồng Xuân kết nối với chợ đêm Đồng Xuân đã tạo thành một không gian đi bộ phố cổ về đêm dài gần 3km. Đây thực sự đã trở thành một điểm du lịch hấp dẫn, khai thác được nét văn hóa phố cổ đồng thời tạo điều kiện cho du khách khám phá Hà Nội về đêm. Hòa vào dòng người đi bộ trong không gian phố cổ và mua sắm hàng lưu niệm, hàng tiêu dùng tại những sạp hàng dựng trong tuyến phố mới cảm nhận được sức hấp dẫn của chợ đêm và phố cổ về đêm.
 Ngay cạnh những dãy hàng náo nhiệt người ta vẫn cảm nhận được một đêm phố cổ trầm mặc qua những căn nhà nhỏ lô xô nằm nép mình vào nhau gợi lên cảm giác xa xưa, hoài cổ. Đặc biệt vào tối thứ 7 hàng tuần, các hoạt động văn nghệ dân gian như hát chèo, hát xẩm, ca trù, quan họ… do Hội Nhạc sỹ Việt Nam tái hiện càng làm tăng thêm nét cổ kính và riêng có của phố cổ Hà Nội.
Khu phố cổ Hà Nội với những ngôi nhà ống nhỏ nhắn xinh xắn, những con đường tấp nập người đi, những đền chùa mái cong mềm mại, cả những không gian, âm thanh hay hương vị độc đáo của các món ăn... tất cả đã làm nên một vẻ đẹp mà chỉ Hà Nội mới có.
Giá trị di sản phố cổ Hà Nội
Cùng với Hoàng thành, khu phố cổ Hà Nội là hiện hữu của Kinh thành Thăng Long xưa, mang hồn thiêng khí phách lịch sử dân tộc, là một di tích vô cùng quý giá của thủ đô Hà Nội và của cả nước.
Năm 1010, trung tâm Hà Nội cổ được nhà Vua Lý Thái Tổ đánh giá trong "Chiếu dời đô" là "ở giữa khu vực trời và đất, có thế rồng cuộn hổ ngồi". Với sẵn một vùng kinh tế – cư dân – nơi "hội họp của bốn phương", kinh kỳ Thăng Long chính thức được hình thành, với tổng thể "Tam trùng thành quách" là quy hoạch kiến thiết của đô thị cổ Hà Nội.
Trung tâm thương mại của Thăng Long, lấy cửa Đông, sông Tô, sông Hồng làm giới hạn, là vùng sầm uất nhất Kinh thành, ở đây tập trung nhiều phố phường, chợ bến, kết hợp với khu vực buôn bán, các phường thủ công ngày càng phát triển.   Trải qua quá trình lịch sử, các thành tố đơn lẻ của phố cổ Hà Nội có bị thay đổi, các niên đại xây dựng không sớm, nhưng không thể phủ nhận giá trị lịch sử và quá trình hình thành, phát triển nghìn năm văn hiến. Về tổng thể khu vực này vẫn bảo lưu được cơ cấu không gian đô thị của một khu phố cổ, vẫn giữ được chức năng xã hội với vai trò là một trung tâm thương mại, các tuyến phố, hệ thống chợ, các công trình di tích kiến trúc, tôn giáo, tín ngưỡng, các nhà ở có giá trị kiến trúc, phương thức tổ chức không gian sống, sinh hoạt, các lễ hội truyền thống, nếp sống, thanh lịch của người Hà Nội hàng ngày diễn ra trong không gian khu phố cổ Hà Nội.
Trên cơ sở khoa học và thực tiễn, khu phố cổ Hà Nội đã được xếp hạng là "Di tích lịch sử khu phố cổ Hà Nội".
Giá trị văn hoá của phố cổ Hà Nội
Nói đến lịch sử hình thành, quá trình phát triển "Thăng Long- Hà Nội" không thể không nói đến khu phố cổ Hà Nội. Ngày nay, không chỉ nhân dân Việt Nam mà cả bạn bè quốc tế cũng quan tâm đến khu phố cổ Hà Nội, coi đó là một di sản văn hoá, một đặc trưng của thủ đô Hà Nội ngàn năm văn hiến. Khu phố cổ Hà Nội – khu 36 phố phường là một nhân tố quan trọng, một phần để nhận diện bản sắc văn hoá đô thị Hà Nội.
Khu 36 phố phường xưa cùng với Hoàng thành làm nên kinh kỳ Thăng Long nổi tiếng là "ngàn năm văn hiến" "Thứ nhất kinh kỳ thứ nhì phố Hiến", với các hoạt động, đời sống sôi động, đây không chỉ là một trung tâm kinh tế mà còn là một trung tâm văn hoá đa dạng đó là các giá trị văn hoá phi vật thể như lễ hội truyền thống trong các di tích lịch sử, văn hoá, ứng xử nếp sống thanh lịch của người Hà Nội xưa cùng với sự hiện diện của văn hoá nghề thủ công truyền thống còn ghi dấu lại bằng các tên phố, các di tích tổ nghề, bằng các hoạt động buôn bán, sản xuất hiện hữu còn thể hiện trên phố.  
Giá trị kiến trúc của khu phố cổ Hà Nội
Tổng thể khu phố cổ Hà Nội là một quần thể kiến trúc với khối không gian nhỏ bé, hình thức kiến trúc mặt đứng, tuyến phố, ngôi nhà đặc biệt là các lớp mái ngói "lô xô" với các hoạ tiết trang trí truyền thống của Việt Nam, tạo nên một tổng thể cảnh quan kiến trúc đặc trưng của đô thị cổ tiêu biểu với kiến trúc truyền thống của người Việt đồng bằng Bắc Bộ, cái nôi của văn hoá dân tộc Việt. Đây cũng là đặc trưng cho một đô thị cổ Châu Á.
Giá trị di sản của tổng thể kiến trúc đó là ý tưởng khởi nguyên của việc xây dựng Kinh thành Thăng Long cùng với Hoàng thành, khu phố cổ Hà Nội giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành cơ cấu đô thị đặc thù của Kinh đô Thăng Long xưa và thủ đô Hà Nội ngày nay.
Dù trải qua nhiều biến cố lịch sử, những thành tố đơn lẻ của phố cổ bị thay đổi, mang dấu ấn của kiến trúc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX nhưng về tổng thể vẫn bảo lưu được cơ cấu không gian đô thị của một khu phố cổ truyền thống. Đồng thời với sự phát triển qua quá trình lịch sử "khu 36 phố phường" Hà Nội là đặc trưng của một quần thể kiến trúc truyền thống Việt Nam, với hình thái kiến trúc mà phản ánh vào nó là các dạng kiến thức kiến trúc của các thời kỳ lịch sử của thủ đô Hà Nội. Đặc điểm dân gian thể hiện rất rõ trong cách tổ chức khu phố trên cơ sở đơn vị, phường nghề với phương thức sản xuất, tổ chức xã hội và các thiết kế văn hoá, tín ngưỡng, cách thức xây dựng có nguồn gốc từ nông thôn. Phố xuất hiện sau phường do nhu cầu trao đổi thương nghiệp tăng dần. Phố là một bộ phận của phường đồng thời phố là thành phần liên kết các phường khác nhau trong mối quan hệ tương hỗ và tạo nên một mạng lưới đường - đó là cấu trúc đô thị.
Tổng thể khu phố cổ Hà Nội là một khu phố thị dân gian, là trung tâm sinh hoạt cộng đồng quan trọng của thủ đô Hà Nội. Đặc điểm dân gian thể hiện trong cách tổ chức xây dựng phường, phố và công trình kiến trúc, trong đó có sự hoà trộn đồng thời của những yếu tố, chức năng kinh tế, xã hội, văn hoá, tín ngưỡng, tạo nên những giá trị riêng biệt, độc đáo của một cấu trúc hình thái không gian đô thị sống động. Đó là dạng cấu trúc đô thị truyền thống Việt Nam điển hình, được hình thành trên cơ sở mô hình kết hợp chức năng vốn là một đặc trưng cơ bản của phương thức sản xuất phương đông trong quá khứ. Kiến trúc truyền thống phố cổ Hà Nội là sự kế thừa và phát triển tinh hoa văn hoá nhà ở dân gian truyền thống đồng bằng Bắc Bộ, nền văn hoá sông Hồng, văn minh lúa nước, phù hợp với điều kiện đô thị truyền thống Việt Nam, hình thành từ trong lịch sử và cách thức xây dựng có nguồn gốc từ nông thôn.
Trải qua nhiều biến cố lịch sử, khu phố cổ Hà Nội luôn có sức sống riêng để tồn tại, thích nghi và phát triển, vừa bảo lưu được những nét riêng độc đáo, đó là mạng lưới đường phố, ngõ nhỏ có hình thái tự nhiên, cách phân chia bố cục mặt đứng kiến trúc đường phố tạo nên vẻ đẹp hài hoà của không gian kiến trúc với những đặc tính động luôn thay đổi khá bất ngờ, độc đáo. Phố cổ Hà Nội là một giá trị di sản vô cùng quý báu cần được bảo tồn và phát huy trong đời sống đô thị hiện đại, là tấm gương phản chiếu lịch sử, kiến trúc và đời sống đô thị Hà Nội qua các thời kỳ.
Phố cổ Hà Nội luôn gắn liền với cuộc sống, vận động phát triển của kinh đô Thăng Long xưa, Hà Nội ngày nay, đã trở thành khái niệm, ấn tượng sâu sắc về giá trị văn hoá không chỉ riêng với người Hà Nội mà còn đối với bạn bè trong và ngoài nước đã một lần tới thăm phố cổ.

NHÀ HÁT LỚN HÀ NỘI- CÔNG TRÌNH KIẾN TRÚC ĐỘC ĐÁO

Nhà hát lớn Hà Nội là một công trình lớn mà Chính quyền thực dân Pháp đã xây dựng trong những năm đầu thế kỷ XX. Nó được bắt đầu khởi công xây dựng vào năm 1901 và hoàn thành vào năm 1911.
Nơi chúng ta ngồi xưa kia là một vùng đầm lầy thuộc đất của hai làng Thạch Tần và Tây Luông thuộc Tổng Phúc Lân Huyện Thọ Xương. Vào năm 1899 hội đồng thành phố nhóm họp dưới quyền chủ tọa của Richard – là Công sứ Hà Nội đề nghị lên tòan quyền Fourer cho xây Nhà Hát.
Tác giả đồ án thiết kế là hai kiến trúc sư Harlay và Broyer. Bản thiết kế này phải sửa đổi nhiều bởi sự góp ý của nhiều kiến trúc sư.
Công trình được khởi công vào ngày 7 tháng 6 năm 1901, dưới sự giám sát kỹ thuật của thanh tra đô thị - kiến trúc sư Harlay – một trong hai tác giả thiết kế. Người phụ trách thi công là hai ông Travary và Savelon.
Việc san lấp mặt bằng diễn ra rất vất vả. Hàng ngày có 300 công nhân làm việc, 35000 cọc tre được đóng với khối bê tông dày 90 cm. Công trình phải sử dụng hơn 12000m3 vật liệu, gần 600 tấn gang thép. Công trình chiếm diện tích 2600m2, chiều dài công trình là 87m, chiều rộng là 30m, điểm cao nhất của công trình so với mặt đường là 34m. Mặt trước của công trình rất bề thế, có nhiều bậc trông ra quảng trường rộng ( Nay gọi là quảng trường Cách mạng tháng 8 ), Những bậc thềm chạy dài trước Nhà hát trước đây để đón thẳng các xe của các quan chức thuộc địa đến xem.
Những người thiết kế công trình đã tìm tòi tham khảo kiểu kiến trúc cổ Hy Lạp Coranhtơ kết hợp với kiểu lâu đài Tuylory và nhà hát Opera Paris để tạo nên một khối kiến trúc riêng biệt.
Bên trong nhà hát trước đây có sân khấu rộng và một phòng khán giả chính có diện tích 24x24m, ngày đó chứa được 870 chỗ ngồi, ghế ngồi bọc da, một số chỗ bọc bằng nhung. Tầng giữa có nhiều phòng nhỏ dành cho khán giả có vé riêng. Cầu thang giữa lên tầng hai là một sảnh chính rộng. Cầu thang phụ và hành lang ở hai bên. Phía sau nhà hát là một phòng quản trị, có 18 buồng cho diễn viên hoá trang, 2 phòng tập hát, 1 thư viện và phòng họp. Phía mặt trước trên tầng II là phòng gương rất lộng lẫy. Kinh phí xây dựng Nhà hát được duyệt vào lúc đó là 2.000.000 Frăng Pháp.
Nhà hát lúc đó được sử dụng là nơi biểu diễn các loại hình nghệ thuật cố điển như Opera, nhạc thính phòng, kịch nói... phục vụ cho tầng lớp quan lại thượng lưu người Pháp và một số ít người Việt giàu có. Lịch biểu diễn thời đó một tuần có 4 lần vào thứ ba, thứ năm, thứ bảy và chủ nhật.
Nhà hát Lớn hà Nội có một giá trị rất lớn về mặt lịc sử, kiến trúc và giá trị dử dụng. Nó là bằng chứng lịch sử của sự phát triển văn hóa và xã hội của Hà Nội và Việt nam thừoi kỳ Pháp thuộc, là một di tích của một giai đoạn phát triển kiến trúc ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Nhà hát Lớn Hà Nội và Quảng trường Nhà hát là nơi diễn ra những sự kiện lịch sử trọng đại gắn liền với cuộc Cách mạng tháng 8 và những năm đầu của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.
-          Ngày 17/8/1945 tại quảng trường Nhà hát đã diễn ra cuộc mít tinh ra mắt mặt trận Việt Minh.
-          Ngày 29/8/1945 đàon quân giải phóng Việt Bắc về Hà Nội ra mắt tại quảng trường Nhà hát Lớn Hà Nội.
-          Ngày 16/9/1945 tại quảng trường Nhà hát đã diễn ra tuần lễ vàng.
-          Đầu tháng 10/1945 tổ chức ngày Nam Bộ kháng chiến tại quảng trường Nhà hát.
-          Ngày 5/3/1945 Quốc hội nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa họp khóa đầu tiên tại Nhà hát Lớn Hà Nội.
-          Ngày 2/9/1946 mít tinh kỷ niệm 1 năm chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa và đó cũng là ngày Bác Hồ lần đầu tiên đặt chân vào Nhà hát Lớn Hà Nội.
-          Ngày 28/10/1946 quốc hội họp khóa II thông qua Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa và kể từ đó Nhà Hát Lớn Hà Nội là nơi Quốc hội họp kỳ thứ nhất, thứ hai, thứ tư và mấy khóa kế tiếp cho đến ngày có Hội trường Ba Đình.
-          Nhà hát Lớn Hà Nội là nơi đã chứng kiến những giây phút hòa bình đầu tiên trên đất nước của chúng ta, là một nhân chứng cách mạng của Thủ đô Hà Nội. Từ đó đến nay Nhà hát luôn luôn là trung tâm của các cuộc họp, hội nghị mít tinh quan trọng và các buổi biểu diễn mang tính nghệ thuật cao của các đòan nghệ thuật trong nước và quốc tế.
Trải qua gần một trăm năm sử dụng, Nhà hát đã bị xuống cấp rất nhiều. Các không gian bên trong: từ trang trí, vật liệu, màu sắc, tiện nghi phục vụ đến các thiết bị kỹ thuiật quan trọng dành cho Nhà hát đều đã ngày càng cũ kỹ lạc hậu, không còn đúng với các tiêu chuẩn của các cuộc trình diễn mang tính Quốc tế. Về không gian bên ngoài Nhà hát ngày càng xuất hiện nhiều công trình không phù hợp dễ phá vỡ không gian kiến trúc của Nhà hát. Vì vậy Nhà hát Lớn Hà Nội cần được nâng cấp và cải tạo một cách sâu rộng hơn, đầy đủ hơn để đáp ứng vai trò là một trung tâm văn hóa tiêu biểu không chỉ của Hà Nội, của cả nước mà còn là của cả khu vực Đông Nam Á.
Nhà hát lớn Hà Nội là một công trình kiến trúc có một không hai với những giá trị kiệt xuất về lịch sử, văn hoá, kiến trúc và mỹ thuật. Một thành phần hiếm có của đô thị và kiến trúc thủ đô góp phần tạo lập bộ mặt đất nước ta ngày nay trong lĩnh vực văn hoá, tạo ra những tiền đề cần thiết cho sự mở rộng giao lưu văn hoá, trong công cuộc phát triển kinh tế xã hội hiện nay, đặc biệt trong công cuộc chấn hưng văn hoá dân tộc.
Kiến trúc nhà hát  
Nhà hát lớn Hà Nội được xây cất phỏng theo mẫu của Nhà hát Opera Paris, nhưng tầm vóc nhỏ hơn, các vật liệu sử dụng được thay đổi theo những điều kiện kinh tế và khí hậu địa phương, đồng thời mang nhiều màu sắc , đường nét kiến trúc của các Nhà hát ở miền Nam nước Pháp . Cách tổ chức mặt bằng, loại hình móng ngựa cho phòng lớn, lối vào sảnh, cầu thang chính và việc tổ chức các không gian phục vụ sân khấu của  Nhà hát lớn Hà Nội đều giống như các nhà hát ở châu Âu đầu thế kỷ XX.     
Sảnh chính:     Là nơi đầu tiên đón khách đến Nhà hát, đựoc lát đá chất lượng cao được đưa từ Italia có mầu sắc phù hợp với không gian và qui mô của sảnh tạo cảm giác như một tấm thảm lớn. Hệ thống đèn chùm nhỏ treo  trên tường được mạ đồng theo kiểu cổ. Đèn chùm treo trên cao được mạ một lớp vàng theo công nghệ mới.
    Phòng Gương:     Phòng gương là phòng lễ nghi quan trọng thường xuyên đón tiếp các nhân vật cao cấp của Đảng và Nhà nước, các nguyên thủ quốc gia. Nơi diễn ra lễ ký kết các văn kiện quan trọng của Chính phủ. Ngoài ra phòng gương còn là nơi biểu diễn các chương trình nghệ thuật thính phòng + Họp báo và tiến hành các Hội nghị mang tính chất nhỏ. Sàn Phòng gương được phục chế hoàn toàn theo kỹ thuật Mozaic. Đá lát sàn phòng gương được đưa từ Italia sang do thợ lành nghề của Italia hướng dẫn ghép từng viên bằng tay để đảm bảo độ tinh tế của công trình.
Trần phòng gương được phục chế theo nguyên bản bởi những nghệ nhân từ Vơnidơ. Đèn chùm pha lê và đèn treo các góc mang phong cách cổ điển Pháp. Bàn ghế trong Phòng gương được thiết kế theo kiểu cổ, phong cách Pháp cuối thế kỷ XIX. 
Phòng khán giả:     Bên trong Nhà hát có sân khấu rộng và một phòng khán giả rộng 24x24m, có tổng số ghế cả ba tầng là 598 ghế. Sàn phòng khán giả được lát bằng gạch chất lượng cao và trải thảm chống cháy. Ghế ngồi được thiết kế theo phong cách cổ điển Pháp thế kỷ XIX. Trần bên trên phòng khán giả do các hoạ sỹ Pháp vẽ. Đèn chùm đựợc dát một lớp vàng theo công nghệ mới. Đèn gắn trên tường làm bằng đồng theo kiểu cổ.